Xác định dự án phải qua thủ tục đấu thầu

tu-van-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-lawpro

Xác định dự án phải qua thủ tục đấu thầu

Điểm c, Khoản 1, Điều 1 Luật Đấu thầu quy định: “Dự án đầu tư phát triển không thuộc quy định tại Điểm a và Điểm b khoản này có sử dụng vốn Nhà nước, vốn của doanh nghiệp Nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án”. CÂU HỎI – Trường hợp công ty nắm giữ từ 30% trở lên vốn điều lệ của một doanh nghiệp khác, hoặc nắm giữ dưới 30% vốn điều lệ nhưng dự án có tổng mức đầu tư trên 500 tỷ đồng và doanh nghiệp này sử dụng 100% vốn tự có của mình để thực hiện dự án. – Trường hợp công ty nắm giữ dưới 30% vốn điều lệ của một doanh nghiệp khác (công ty cổ phần), đồng thời có một công ty 100% vốn Nhà nước khác cũng nắm giữ dưới 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp này; tổng vốn đầu tư của công ty và công ty Nhà nước kia tại công ty cổ phần là trên 30% vốn điều lệ và doanh nghiệp này sử dụng 100% vốn tự có của mình để thực hiện dự án. – Trường hợp công ty hợp tác với một đối tác khác (không phải doanh nghiệp Nhà nước) để thực hiện dự án theo hợp đồng hợp tác kinh doanh ký giữa 2 bên (không thành lập pháp nhân), trong đó, công ty tôi góp trên 30% tổng mức đầu tư của dự án. – Đối với dự án của một doanh nghiệp mà công ty tôi có góp vốn đầu tư, và doanh nghiệp này có sử dụng vốn vay của ngân hàng mà ngân hàng này có vốn Nhà nước thì dự án đó có được xem là sử dụng vốn Nhà nước, vốn của doanh nghiệp Nhà nước không (bao gồm tỷ lệ của tổng công ty, và tỷ lệ ngân hàng tài trợ)?.

TRẢ LỜI Điểm c, Khoản 1, Điều 1 và Khoản 44, Điều 4 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định dự án đầu tư phát triển không thuộc Điểm a và Điểm b khoản này có sử dụng vốn Nhà nước, vốn của doanh nghiệp Nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này; vốn Nhà nước bao gồm vốn ngân sách Nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất.Trường hợp doanh nghiệp là doanh nghiệp Nhà nước thì dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 1 Luật Đấu thầu. Trường hợp doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp Nhà nước thì việc xác định dự án có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu hay không phải căn cứ theo tỷ lệ % vốn Nhà nước trong tổng mức đầu tư của dự án theo quy định nêu trên. Theo đó, chủ đầu tư chịu trách nhiệm xác định phần vốn Nhà nước, vốn của doanh nghiệp Nhà nước trong tổng mức đầu tư.